22:36 EST Thứ ba, 18/12/2018 Cách chữa 46 loại bệnh tật bằng mẹo không cần thuốc | Những nội dung cốt lõi trong dự thảo các văn kiện trình Đại hội XII của Đảng | Loại cỏ diệt ung thư trong 24h đang gây xôn xao có thể có ở VN | GS Ngô Bảo Châu: "Hơi tiếc là không ai đả động gì" | Mẫu viết sáng kiến kinh nghiệm | Cô giáo dân tộc Mường chữa trị hiếm muộn, gút và xương khớp hiệu quả | Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ Công nghệ thông tin (CNTT) năm học 2013-2014. | V-iSpring Suit 6x – Giải pháp soạn bài giảng theo chuẩn e-learning cho người Việt | “Chim vành khuyên” trong làng opera Việt | Chuyên đề dạy học với công nghệ thông tin | 

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang truy cậpĐang truy cập : 7


Hôm nayHôm nay : 87

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 2077

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 303712

LIÊN KẾT NHANH WEBSITE

Trang nhất » Tin Tức » Tin tức nổi bật » Tin tổng hợp

Tướng công Nguyễn Gia - Đào Quang Nhiêu

Thứ năm - 14/02/2013 06:21
Tướng công Nguyễn Gia - Đào Quang Nhiêu

Tướng công Nguyễn Gia - Đào Quang Nhiêu

 
Tướng công Nguyễn Gia - Đào Quang Nhiêu
 
 
Thực ra ông là con cháu dòng họ Nguyễn Gia (họ bố) nhưng vì sao lại đổi sang họ Đào (họ mẹ), giải thích việc này có một sự trùng hợp kỳ lạ giữa chính sử và các nhà nghiên cứu tâm linh.

Cách đây 7 năm (chính xác là 12h đêm 24/10 năm Ất Dậu tức 25/11/2005 tại từ đường thôn Trung Bằng, xã Sơn Bằng, huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh (cách Thanh Oai quê ông 500km), các nhà ngoại cảm đã ghi được những lời tâm sự của ông. Ông cho biết mình sinh năm Tân Sửu (1601), mất ngày 1/5/1672 (năm Nhâm Tý).
Đẻ được 3 tháng thì cha mất (mới 30 tuổi). Mẹ ông là con quan trong triều, một phụ nữ vừa đẹp vừa ăn nói nhẹ nhàng, được học hành tử tế, đối xử tốt với mọi người nên được nhiều người quý mến, kính nể.
Bố mất, ông được cậu (không có con) mang vào triều nuôi dạy nên ông nhớ ơn đổi họ thật của mình (Nguyễn Gia) sang họ Đào (húy là Quang Nhiêu).Cũng theo lời ông, họ Nguyễn Gia thông minh nhưng nóng tính không làm quan to được, chỉ giỏi về đường văn chương mà tiêu biểu là Ôn như hầu Nguyễn Gia Thiều.
Còn họ Đào bên mẹ bình tĩnh, nhã nhặn, làm quan to hơn. Ông nói phúc Nguyễn Gia chưa tới mà ông nhờ phúc họ Đào nên mới làm nên nghiệp lớn. Ông mách bảo con cháu: Con người có cấu tạo linh khí rất hiện đại. Chết chưa phải là hết. Âm có sóng âm bay mãi trong không trung. Rồi đây khoa học phát triển sẽ có máy khuyếch đại sóng âm, nghe được tiếng nói của người cổ.
Có một sự giống nhau ngẫu nhiên giữa các điều vừa nói với sử liệu trong sách "Đại Việt sử ký toàn thư" của Ngô Sỹ Liên cùng các tư liệu ghi trong bia đá (hiện nay vẫn còn tại đền thờ Đại Vương Đào Quang Nhiêu ở xã Dân Hòa).
Đặc biệt thuyết phục là gia phả họ Nguyễn Đào bản gốc chữ Hán viết vào tháng 5 năm Canh Ngọ (1750) do Đào Công Chấn viết, Nguyễn Gia (chỉ sao chép lại, hiện bản gốc lưu tại gia tộc ông Nguyễn Gia Hồng).Ông Hồng (đã mất) là một nhà tư sản xe điện nổi tiếng thời Pháp thuộc tại Hà Nội.
Theo gia phả, Tướng công Đào Quang Nhiêu thuộc dòng họ Nguyễn Gia. Ông nội là Nguyễn tướng công, tên húy là Phúc An, giữ chức Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng thời Lê, hiện mộ táng tại Thanh Oai. Bà nội (Hiền tằng tổ tỷ) là bà Từ Mỹ, được triều đình truy phong Chánh phu nhân họ Nguyễn.
Tương truyền ông bà nội của Đào tướng công rất giỏi nghề thuốc, để lại rất nhiều âm đức cho con cháu, được dân chúng khắp vùng ngưỡng mộ. Ông nội có 4 trai 2 gái (bà Từ Lộc và bà Từ Vân).
Bố đẻ Đào tướng công chính là con trai cả Nguyễn Lang, tên tự Chính Tâm, đương thời giữ chức Đặc tiến phụ quốc Thượng tướng quân - Thị vệ sự tại Vệ cấm y, sau được phong thêm Tả đô đốc cánh quân phương Nam, tước Dũng Quận Công. Ông là một người hiền đức, có nhiều công lao với triều đình nhưng mất sớm (30 tuổi), hiện mộ táng tại xứ Đống Vua, xã Tảo Công, sinh năm Đinh Sửu, mất năm Đinh Hợi thọ 71 tuổi.
Đào tướng công theo gia phả sinh vào giờ Hợi ngày 13 tháng 12 âm lịch năm Tân Sửu (1601), mất vào giờ Tuất ngày 1-5 năm Nhâm Tý (1672), hưởng thọ 71 tuổi. Phần mộ lúc đầu tại xá Mả Ngẫu thôn Tiên Lữ, sau cải táng chuyển về xã Đôn Thư cùng huyện.
Ông có 2 bà vợ. Vợ cả là bà Vũ Đoan Tĩnh, người cùng quê thọ 83 tuổi, mộ táng tại xứ Đồng thôn Kim Bài cùng huyện. Vợ hai là bà Bùi Trinh Thuận, hiệu là Từ Kính, thọ 53 tuổi. Ông lấy bà hai khi đang nhận lệnh vua đi dẹp loạn tại Đức Thọ (Hà Tĩnh) phía Bắc sông La. Cha làm quan trong triều và bản thân bà có công giúp ông dẹp giặc nên được nhà vua sắc phong mặc dù tuổi còn rất trẻ.
Trong số các con cháu của Đào tướng công, xuất sắc nhất có người con trai đầu với bà vợ cả là Đào Quang Huy nhiều mưu lược, hợp với ông tuy hơi manh động (Đào Quang Huy đã cùng ông tham gia nhiều trận đại chiến ở Quảng Bình) và 2 người cháu là Đào Tử Khuê và Đào Linh Công. Riêng Đào Tử Khuê thông minh, học cao biết rộng, được nhà vua mời vào dạy cho con cháu hoàng tộc ở Quốc Tử Giám.
Do Công lao đóng góp của Đào Quang Nhiêu đối với triều đình, với đất nước chủ yếu về mặt quân sự nên ông được xếp hàng danh tướng. Tương truyền từ bé ông đã có tướng mạo, tính khí hiên ngang của bậc võ tướng. Tổng Thái giám - Yến Quận Công Đào Quang Hoa (được coi là cha nuôi, chính là người đã sắp xếp nhân duyên của ông với bà cả Vũ Đoan Tĩnh) lúc bấy giờ rất có thế lực trong triều và quý mến ông (vì không có con nên cậu quý còn hơn con đẻ). 9 tuổi ông đã được vào vương phủ.
 

 

Do trí tuệ khác thường như người đã trưởng thành nên năm 13 tuổi ông đã được vua phong là Chánh đội trưởng Tả đội có nhiệm vụ trông coi, kiểm tra trướng, không lúc nào rời. Năm sau được giữ chức Quản binh, sắc phong Đặc tiến phụ quốc Thượng tướng quân.

Đương thời, Phó GS-TS Phan Khanh dẫn tư liệu của sử gia Trần Trọng Kim, vua Lê bị chúa Trịnh chuyên quyền. Thời Trịnh Nguyễn phân tranh, nội chiến tướng tương tàn 45 năm giữa Đàng trong và Đàng ngoài (1627-1672) - từ thời vua Lê Thần Tông đến Lê Gia Tông, lấy sông Gianh làm giới hạn.

Trịnh - Nguyễn chia cắt đất nước, đánh nhau tới 7 lần, dân chúng vô cùng lầm than, đói khổ. Cuộc đời Đào Quang Nhiêu trải qua 3 đời chúa: Trịnh Tùng (1570-1623), Trịnh Tráng (1623-1657) - Trịnh Tạc (1657-1682) và 4 đời vua Lê Kinh Tông (1600-1619), Lê Thần Tông (1619-1643), Lê Chân Tông (1643-1649) và Lê Huyền Tông (1663-1671).

Các chúa Trịnh đã nhiều lần rước vua Lê về Thanh Hóa khi có loạn ở Thăng Long, thậm chí có lần vào tận Nghệ An, Quảng Bình. Trong các lần ấy, chính tướng quân Đào Quang Nhiêu là người chỉ huy đoàn quân hộ xá nhà vua lúc đi cũng như lúc trở về. Trong bối cảnh triều chính đại loạn ấy mà vẫn đủ bản lĩnh giữ được chữ Trung thần, không ngả nghiêng mưu toan cầu lợi như Đào Quang Nhiêu thì thật đáng cho muôn đời nể phục.

Thăng Long xưa, Hà Nội nay không xếp ông vào hàng danh tướng có công đầu với đất rồng bay thì mới là chuyện lạ. Không chỉ việc hộ vệ xa giá nhà vua, Đào Quang Nhiêu còn lưu danh tên tuổi mình trong nhiều trận đánh nổi tiếng từng ghi trong sử sách. Như trận chém đầu giặc Xuân Quang (đồ đảng nhà Mạc) ở Thanh Liêm. Từ 25 đến 62 tuổi, dấu chân ông đi khắp mọi miền từ Thất Khê Lạng Sơn đến Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình. Không phải vô cớ mà khắp các vùng Nghệ An, Hà Tĩnh bây giờ có rất nhiều đền thờ ông như Thành Hoàng làng.

18 năm được cử làm Trấn thủ Nghệ An - Hà Tĩnh và Quảng Bình, ông tham gia bảo vệ biên giới phía Nam, ổn định đời sống cư dân, giữ yên cho Bắc Hà. Theo gia phả họ Nguyễn Gia và tài liệu của nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh Phúc, có một trận đánh nổi tiếng ở ngay Hà Nội do ông tham gia vào năm 1645. Đó là trận tiễu trừ âm mưu đảo chính của 2 vương tử Phù quận công Trịnh Lịch và Hoa quận công Trịnh Sâm.

Đào tướng công bài binh bố trận bên phía phủ chúa tại Cửa Nam. Đám loạn quân rất hung hăng, dương oai diễu võ tại phố Đình Ngang bây giờ. Binh mã kéo đến ầm ầm trà trộn vào dân chúng, ẩn hiện khắp các phố Hàng Ngang, Hàng Đào lớp lớp đông như kiến. Đào tướng công bình tĩnh chỉ huy 2 tướng tiên phong là Quỳ thọ hầu Khải Tất Đạt và Lộc thọ hầu Khải Tất Đạt mang quân khiêu chiến.

 Đánh nhau tới giờ Mùi (2 giờ chiều) mà vẫn không phân thắng bại. Vốn là nhà mưu lược thiên tài, Đào tướng quân huy động toàn bộ số cấm quân và người hầu trong Vương phủ rồi bí mật chia làm hai cánh quân trái phải. Một cánh vòng từ Ô Ông Mạc (tức Ô Đống Mác) qua Cầu Dền. Một cánh vòng qua cầu Muống tới Đàn Nam Giao (phố Kim Liên bây giờ).

Cả 2 cánh bất ngờ đánh tập hậu. Khi đó có trống lệnh phát hiệu, đích thân Đào tướng quân chỉ huy đại binh đánh vỗ mặt. Quân phản loạn hồn kinh phách lạc, bỏ lại không biết bao nhiêu voi ngựa, vũ khí khắp khu vực Hồ Gươm, Tràng Thi, Tràng Tiền bây giờ. Trịnh Lịch bị bắt sống, nom thấy Đào tướng quân đã không dám ngẩng mặt lên.

Nhà sử học Phan Huy Chú đã viết: Ông ở trấn 18 năm, chính lệnh nghiêm minh, giặc cướp vắng lặng, biên thùy yên ổn, ông là bậc danh tướng sau đời Trung Hưng. Chỉ một trận đó ông đã cứu nguy cho thành Thăng Long. Tại Hội thảo khoa học vừa qua, nguyên Thứ trưởng Bộ VHTT Trần Tiêu đã đề nghị cùng với việc đầu tư xây lại đền thờ, Hà Nội nên đặt tên phố hoặc tên trường học để ghi nhớ công lao tướng công Đào Quang Nhiêu.

Nếu tới nay, các nhà quản lý có trách nhiệm của Hà Nội bớt chút thời gian lắng nghe tiếng vọng của lịch sử, kịp làm điều gì đó tri ân các bậc tiền nhân ngay giữa những ngày kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long thì hẳn cũng không muộn.

Tuy chiến công lẫy lừng nhưng sinh thời Đào tướng công rất khiêm tốn. Ông nói mình là tướng quân sự nhưng chủ yếu là tướng văn, võ biết rất ít, chủ yếu dùng mưu mẹo, dùng lời ăn tiếng nói, biết tập hợp sức mạnh quân dân mà thắng quân thù. Chất nhân văn trong con người Đào Quang Nhiêu thể hiện rất rõ trong lời tự sự: "Ta chém giết không nhiều, phần lớn bắt được rồi thả. Với chính sách tù binh, ta cho họ ăn uống, cho quần áo mặc rồi trả về cho vợ con. Thả họ về thì họ giúp lại ta".

Trong lời di huấn, ông căn dặn con cháu: “Bình sinh ta mở chợ, đúc cầu, lấy nhân nghĩa để vì dân, thờ nước, không cậy quyền cậy thế, việc thiện thì làm việc ác thì tránh. Có lộc đừng hưởng hết, có uy đừng cậy hết".

Tài đức tiếng tăm của ông bay sang tận Trung Hoa. Năm Quý Mùi (1653), trong dịp phụng mệnh nhà vua lên Lạng Sơn tiễu trừ nhà Mạc, quan Tổng binh Vân Nam từ phía Đông trở về tha thiết muốn gặp Đào tướng công. Biết ông là một danh tướng nước Nam, Tổng binh muốn mời Tướng công đến một mình.

Chối từ mãi không được, Đào tướng quân chọn một viên thuộc tướng có hình dáng dũng mãnh giống mình sang gặp. Chẳng ngờ quan Tổng binh là người xem tướng giỏi nên buồn bã nói rằng: “Đã từ lâu nghe tiếng trung nghĩa của chủ ông. Muốn gặp nhau một lần, để diện kiến đại danh, có ý gì khác đâu. Có chi phải nghi ngờ mà lại sai người khác đi thay vậy?".

Người tướng đi thay lúng túng thanh minh rồi xin lỗi cáo lui. Gặp Đào tướng quân, viên tướng thuật lại mọi chuyện. Nghe xong ông lại xin vua cho đi. Vua đồng ý và cho mặc phẩm phục hàng quan nhất phẩm của triều đình. Đào tướng công mặc giáp trụ oai nghiêm, đội ngũ tháp tùng chỉnh tề, lại có cả voi ngựa hùng dũng đi theo.

Tổng binh vừa nhìn thấy đã lạnh hết sống lưng, vỗ tay mà khen rằng: "Kỳ tài, kỳ tài. Đúng là nước Nam có người tài giỏi, tiếng đồn quả không sai!". Nói rồi sai ba quân đón rước theo nghi lễ trọng thể, đàm đạo chuyện thế sự sau mở đại tiệc khoản đãi. Tổng binh thử hỏi về các tướng tài Trung Quốc như Tôn, Ngô, Quách, Lý - Đào tướng quân bàn luận rất sắc sảo, nói cả cái hay cái dở của các vị tướng Tàu khiến Tổng binh vô cùng khâm phục.

Tổng binh luôn mồm: "Lạ thật! Lạ thật!" rồi bất chấp cả phép xã giao, ông xin được xem tướng Đào tướng công và thốt lên: “Đúng là có tướng quý! Tôi kính trọng ngài có tiếng tăm, có con mắt rất kỳ lạ, sau tất là bậc tài năng lớn lao của nước Việt. Tôi mừng cho nước ngài có được người như ngài"

 

Tác giả bài viết: Phan Văn Kỷ

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn